I.Cuộc chơi của nước lớn
Việc Trung Quốc phá giá hơn 4% đồng NDT vừa qua đã khiến nhiều người lo ngại về một cuộc chiến tranh tiền tệ sẽ leo thang. Tuy nhiên, đây chỉ là một diễn biến trong cuộc chiến tranh tiền tệ lần thứ 3 nổ ra từ năm 2010. Vậy đâu là nguồn gốc của chiến tranh tiền tệ lần 3, hướng đi tiếp theo và hệ quả của nó đến nền kinh tế toàn cầu sẽ ra sao?
Tam Quốc đại chiến
Sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, mục tiêu của Trung Quốc là tăng trưởng và việc làm, thay vì sự ổn định theo chính sách “thép, gạo, ăn uống”. Điều này cho thấy Trung Quốc không bao giờ từ bỏ việc thao túng tỷ giá - phương tiện để đạt mục tiêu việc làm. Vào ngày 1-1-1994, Trung Quốc thông báo cải cách thị trường ngoại hối và tiến hành phá giá mạnh 38% ở mức 8,7NDT đổi 1USD. Cú sốc này khiến Bộ Tài chính Hoa Kỳ lên án Trung Quốc đã sử dụng tỷ giá để giành lợi thế không công bằng trong thương mại quốc tế. Mãi đến tháng 7-2005, Trung Quốc mới bỏ neo buộc tỷ giá vào đồng USD và cho phép biến động trong biên độ 2%.
Hoa Kỳ tất nhiên cũng quan tâm đến vấn đề việc làm. Bong bóng thị trường cổ phiếu năm 2000 và nợ dưới chuẩn năm 2008 đã khiến tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ tăng từ mức 6% vào cuối năm 2002 lên mức 9,9% vào năm 2009. Nỗi e sợ giảm phát khiến Cục Dự trữ liên bang (FED) duy trì mức chính sách lãi suất thấp lâu hơn so với bình thường trong cả 2 đợt đổ vỡ.
Lãi suất liên bang giảm hơn 4,75% từ tháng 7-2000 đến tháng 7-2002. Đến năm 2004, lãi suất liên bang vẫn ở mức thấp 1,76%. Hệ quả của 5 năm duy trì lãi suất thấp là một quả bom nợ dưới chuẩn vào năm 2008. Lần này, FED phải duy trì mức lãi suất 0% trong suốt hơn 7 năm qua. Với 3 vòng nới lỏng định lượng (QE) chưa từng có trong tiền lệ từ 2008-2014, FED đã bơm ra 4.400 tỷ USD, khiến báo chí Hoa Kỳ gọi Chủ tịch Bernanke là “máy in tiền”. Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ đã giảm xuống mức 5,9% vào tháng 1-2015.
Nỗi ám ảnh giảm phát của Hoa Kỳ và e sợ bất ổn chính trị tại Trung Quốc là lý do cuộc chiến giữa 2 nước trở nên dai dẳng suốt 3 thập niên qua. Cả 2 quốc gia đều cố gắng phá giá nội tệ nhằm tạo lợi thế cạnh tranh, giải quyết nhu cầu việc làm trong nước. Nhưng cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 giống như câu chuyện “Tam Quốc chiến” giữa 3 bên là Trung Quốc, Hoa Kỳ và khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).
Trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc tồn tại mối quan hệ đối kháng, thì Hoa Kỳ và Eurozone cùng hội cùng thuyền trong thị trường tài chính. Vì thế, việc Hoa Kỳ tung gói QE2 vào tháng 11-2010 ngoài lý do riêng (hỗ trợ EUR tăng giá để giành lấy lợi thế xuất khẩu) còn là sự phối hợp với Eurozone trong việc duy trì an toàn hệ thống tiền tệ toàn cầu. Nhờ vậy, đồng EUR gần như không đổi trong suốt giai đoạn 2007-2011, khi giao dịch ở quanh mức 1,3USD/1EUR.
Nạn nhân
Cuộc chiến giữa 3 ông lớn đã tạo ra ảnh hưởng rộng khắp toàn cầu. Năm 2010-2011, sự mất giá của đồng USD bởi QE2 khiến giá hàng hóa tăng vọt. Một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Venezuela bị ảnh hưởng bởi lạm phát cao. Trong khi đó, các nước mới nổi khác như Nga, Brazil bị dòng vốn đổ vào khiến nội tệ tăng giá rất mạnh, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, chiến tranh tiền tệ, không phải là cuộc chơi của những quốc gia nhỏ, luôn phải chật vật đối phó với những thay đổi chính sách của FED và các ngân hàng trung ương lớn. Cần phải hiểu rằng bị bán phá giá đồng tiền do nguy cơ đảo ngược dòng vốn và chủ động phá giá để tạo lợi thế cạnh tranh là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Kể từ đáy giữa năm 2011, đồng USD đã mạnh lên khoảng hơn 30% so với các cặp tiền tệ chủ chốt và còn lớn hơn so với nhiều đồng tiền của các quốc gia mới nổi. Một thảm họa mới lại xuất hiện: Nguy cơ đảo ngược dòng vốn ở các quốc gia mới nổi và dòng tiền trở về Hoa Kỳ.
Việc FED duy trì lãi suất thấp kỷ lục trong suốt 7 năm qua đã khiến quả bom nợ toàn cầu tãng lên. Theo báo cáo của Mc Kinsey Global Institute, vào tháng 2-2015, tổng nợ toàn cầu đã tăng lên 40% so với năm 2007, lên mức 199.000 tỷ USD. Tỷ lệ nợ/GDP toàn cầu năm 2014 là 286% so với 269% năm 2007 do tăng trưởng GDP không theo kịp tăng trưởng nợ.
Đồng USD rẻ đã khiến đòn bẩy tài chính của các quốc gia, doanh nghiệp tăng lên và thực sự “thấm đòn” khi USD mạnh trở lại. Brazil là một thí dụ điển hình. Đồng real đã mất giá tới hơn 40% so với USD từ tháng 9-2014 đến tháng 7-2015 khi xếp hạng tín nhiệm của quốc gia này bị hạ.
Chưa đầy 1 năm, giá trị các khoản nợ của Brazil đã tăng thêm 1/3 bởi nội tệ mất giá. Các công ty mía đường, ngành xuất khẩu mũi nhọn của Brazil, bị tổn thương nghiêm trọng khi USD mạnh. Nhiều doanh nghiệp đường bị phá sản, kéo theo giá đường thế giới giảm mạnh.
Hệ quả, đồng nội tệ của hàng loạt quốc gia ở châu Á như Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc... sụt giảm mạnh khi dòng vốn rút đi. Dòng vốn rút khỏi 15 nền kinh tế mới nổi là khoảng 600 tỷ USD trong quý I-2015, theo ước tính của NN Invest Patners.
Thậm chí ngay cả Trung Quốc cũng đứng trước thực tế đảo ngược dòng vốn. Tờ Telegraph cho biết trước khi Trung Quốc diễn ra đổ vỡ chứng khoán vào tháng 6-2015, lượng vốn tháo chạy khỏi Trung Quốc 800 tỷ USD trong vòng 1 năm trước đó. Một con số thực sự lớn cho dù Trung Quốc có đến 4.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối.
Đối phó
Việc FED tung ra gói QE2 được coi là dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh tiền tệ, bởi nó khiến các quốc gia phát triển khác phải vào cuộc. Đó là vào tháng 10-2010, chương trình QE của Nhật Bản được mở rộng lên 5.000 tỷ yen để giảm bớt ảnh hưởng của QE2. Sau đó được mở rộng lên 45.000 tỷ yen vào tháng 10-2011 và 70.000 tỷ yen vào tháng 4-2013.
Đến tháng 10-2014, ngay sau khi FED kết thúc QE3, Nhật Bản tiếp tục mở rộng lên mức 80.000 tỷ yen/năm (khoảng 724 tỷ USD). Đi kèm với các gói QE là chương trình kích cầu theo Abenomics từ tháng 11-2012. Trong khi đó, Anh mở rộng gói QE vào tháng 10-2011, nâng tổng tài sản mua vào đạt 275 tỷ USD. Đến tháng 7-2012, Anh đã mua vào lượng tài sản tổng cộng 375 tỷ USD.
Sự mở rộng gói QE của Nhật Bản và Anh vào năm 2011 đã làm chặn lại đà giảm của đồng USD. Giá hàng hóa toàn cầu sụt giảm với việc giá vàng lập đỉnh 1.923USD/oz vào tháng 9-2011. Chính sách QE của các quốc gia phát triển đã làm thay đổi xu hướng của dòng vốn quốc tế. Sự trồi sụt của thị trường chứng khoán các quốc gia mới nổi và cận biên đang tùy thuộc rất lớn vào dòng vốn này.
Theo ước tính của NN Investment Partner, khoảng 22.000 tỷ USD đã chảy vào 15 quốc gia mới nổi từ tháng 7-2009 đến tháng 6-2015, đẩy thị trường chứng khoán các quốc gia này tăng giá. Trong đó, xu hướng nhận thấy, phần lớn dòng vốn chảy vào các thị trường mới nổi vào năm 2010-2011.
![]() |
|
Sau 3 năm đứng ngoài chiến tranh tiền tệ, tháng 3-2015, Eurozone bất ngờ thông báo trở lại chính sách QE với việc mua vào 60 tỷ EUR/tháng trái phiếu chính phủ các quốc gia trong EU, dự kiến đến tháng 9-2016 mua vào khoảng 1.100 tỷ EUR. Nhưng trước khi Eurozone tham chiến, động thái đi trước của Thụy Sĩ khiến thị trường tiền tệ thế giới chao đảo. |
Thụy Sĩ trở thành nơi trú ẩn của dòng vốn quốc tế từ năm 2011 khi Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ liên tục nới lỏng tiền tệ, trong khi đồng EUR đứng trước nguy cơ tan vỡ. Sự mạnh lên của đồng Franc Thụy Sĩ khiến quốc gia này phải can thiệp tiền tệ nhằm giảm bớt ảnh hưởng đến xuất khẩu.
Lo ngại bị ảnh hưởng của việc Eurozone nới lỏng tiền tệ, Thụy Sĩ đã đón trước bằng việc bỏ tỷ giá EUR/CHF ở mức 1,2 vốn duy trì trong suốt 3 năm qua. Sự kiện khiến đồng CHF mất giá 40% so với EUR chỉ trong 1 ngày. Các định chế tài chính như Barclay, Citigroup và Deutsche Bank mất hơn 150 tỷ USD trong bối cảnh hỗn loạn của thị trường. Các sàn giao dịch forex bị đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Đồng EUR thậm chí có lúc đưa vào danh sách hạn chế giao dịch.
II. Rủi ro sụp đổ toàn cầu
Những âm mưu chiến tranh tài chính, lợi ích của các nhóm tư bản phố Wall và sự bất định ngày càng tăng của hệ thống tài chính thế giới, là lý do khiến cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 có thể dẫn đến sự sụp đổ toàn cầu.

Ngày nay, rủi ro không chỉ là việc phá giá đồng tiền này so với đồng tiền khác để giành lợi thế cạnh tranh, mà là rủi ro khả năng sụp đổ hệ thống tiền tệ. Nghĩa là, việc mất niềm tin vào tiền giấy và nguy cơ xuất hiện làn sóng thu mua tài sản cố định. James Rickards, tác giả nổi tiếng về chủ đề chiến tranh tiền tệ, nói: “Cuộc chiến tiền tệ lần 3 có thể là cuộc chiến tranh tiền tệ cuối cùng - nghĩa là cuộc chiến tranh để kết thúc tất cả các cuộc chiến tranh tiền tệ”.
Nếu đơn thuần chỉ hiểu chiến tranh tiền tệ là cuộc đua phá giá tiền tệ, đây không phải là cách hiểu đầy đủ về cuộc chiến tiền tệ lần 3. Bởi cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 không đơn thuần là cuộc đua phá giá tiền tệ mà còn là những âm mưu nhằm lật đổ hệ thống tài chính của nhau. Cụ thể, ở đây là việc Nga và Trung Quốc đang muốn lật đổ vị thế thống trị của đồng USD.
Việc Nga và Trung Quốc cũng như một số quốc gia ở Nam Phi, Mỹ Latin đang cố gắng thiết lập một mạng lưới ngân hàng dành riêng cho các quốc gia thuộc nhóm BRICS, là một trong những nỗ lực chống lại sự thống trị của đồng USD. Thậm chí, Nga và Trung Quốc đang hỗ trợ cho các nước vùng Vịnh trong việc thanh toán mua bán dầu bằng đồng tiền riêng được bảo đảm bằng một danh mục hàng hóa, thay vì đồng USD. Chúng ta biết rằng bản chất của hệ thống tiền tệ ngày nay được gọi là hệ thống tiền tệ “bản vị dầu”.
Việc niêm yết giá dầu bằng đồng USD đã giúp đồng bạc xanh trở thành tiền tệ thanh toán lớn nhất toàn cầu. Vì quốc gia nào cũng cần USD trong giao dịch mua dầu, nên FED có thể in tiền ở quy mô lớn không sợ bị sụp đổ tiền tệ. Cả Nga và Trung Quốc đều hiểu rõ nguồn gốc sức mạnh của FED chính là việc gắn chặt đồng USD với dầu.
Đầu năm 2014, Trung Quốc bày tỏ tham vọng bước vào danh mục rổ tiền tệ SDR (quyền rút vốn đặc biệt) của IMF, nhằm nâng cao vị thế của đồng NDT. Bởi chỉ khi có một vị thế lớn cho đồng NDT, Trung Quốc mới có thể dần thực hiện tham vọng của mình: phá vỡ sự liên kết giữa USD với dầu. Động thái này càng chứng tỏ Trung Quốc và Nga luôn ở thế đối đầu với Hoa Kỳ trong vấn đề gai góc này.
Chẳng hạn vào tháng 2-2012, khi Hoa Kỳ loại bỏ Iran ra khỏi hệ thống thanh toán bằng đồng USD được kiểm soát bởi FED và Bộ Tài chính, đã khiến Iran gặp khó khăn trong việc giao dịch với thị trường quốc tế. Iran là quốc gia xuất khẩu dầu và điều này có tác động không nhỏ đến nền kinh tế Iran. Trung Quốc và Nga đã hỗ trợ Iran bằng các dòng swap hoán đổi USD cho quốc gia này. Bên cạnh đó, Iran sử dụng hệ thống ngân hàng của Trung Quốc và Nga để thực hiện các giao dịch khi bị Hoa Kỳ cấm vận.
Chiến lược đồng USD mạnh
Việc FED dừng các gói nới lỏng định lượng không phải là quốc gia này muốn chấm dứt cuộc chiến tiền tệ. Đây là sách lược mới của FED trong vấn đề cuộc chiến tranh tài chính đối với Trung Quốc và Nga. Hoa Kỳ có nhiều mục tiêu có thể đạt được khi thực hiện đồng USD mạnh.
Thứ nhất, Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ cho Eurozone trong việc phá giá tiền tệ (xem lại Kỳ 1). Thứ hai, đồng USD mạnh sẽ làm tổn thương giá vàng, vốn là công cụ được ưa thích khi có chiến tranh tiền tệ. Thứ ba, đồng USD mạnh giúp thúc đẩy chi tiêu của người dân, yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng của Hoa Kỳ.
Thực tế, 2/3 doanh thu của các công ty Hoa Kỳ đến từ nội địa, không phải xuất khẩu nên ảnh hưởng của đồng USD mạnh không quá lớn. Thứ tư, Hoa Kỳ sẽ tấn công vào cả Trung Quốc và Nga bằng đồng USD mạnh. Đồng USD sẽ ảnh hưởng xấu đến giá dầu.
Giới phân tích cho rằng đây là một đòn tấn công của Hoa Kỳ vào nhà nước tự xưng IS, Nga, Venezuela và Iran, các quốc gia phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ. Thực ra, căng thẳng giữa Nga và Hoa Kỳ liên quan đến vấn đề dầu mỏ đã có trước đó. Từ lâu, Nga luôn theo dõi chặt chẽ các công ty dầu của Hoa Kỳ như Exxon-Mobil và cả các công ty dầu của châu Âu.
Nga còn thực hiện các vụ tấn công mạng để tìm hiểu về nội tình bên trong của các công ty dầu. Hoa Kỳ cũng đã nắm được yếu điểm của Nga là 50% nguồn thu ngân sách đến từ dầu và khí gas. Trong cuộc chiến này, Hoa Kỳ có một đồng minh thân cận là Saudi Arabia. Một thông tin là John Kerry, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã liên kết với Vua Abdullah trong một cuộc họp bí mật tại Syria vào tháng 9-2014 lập kế hoạch tấn công Nga và Iran, bằng việc cả 2 tung dầu ra thị trường làm giảm 50% giá thị trường.
Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi trong cuộc họp của nhóm OPEC vào tháng 12-2014, Saudi Arabia không hề cắt giảm sản lượng dầu, khiến giá dầu giảm mạnh. Saudi Arabia luôn coi Iran là “gã hàng xóm nguy hiểm” vì Iran tiếp tay cho những âm mưu lật đổ chính phủ Saudi Arabia.
Hệ quả của cuộc chiến dầu mỏ là nước Nga rơi vào cảnh lao đao. Đồng rúp Nga mất giá hơn 50% trong năm 2014. Kinh tế Nga rơi vào suy thoái. Có thể nói rằng Hoa Kỳ đã cùng lúc tấn công cả IS, Nga và Iran vì mối bất đồng với 3 mục tiêu này. IS là chủ nghĩa hồi giáo cực đoan; Nga là quốc gia rào cản trong cuộc chiến với Ukraine, khiến Nato và Eurozone không thể mở rộng biên giới; Iran là những mâu thuẫn về hạt nhân.
Hệ quả, vào ngày 14-7-2015, Iran đã phải chấp nhận một thỏa thuận hạt nhân với Hoa Kỳ. Đối với Trung Quốc, đồng USD mạnh lên đang tạo ra làn sóng rút vốn khỏi quốc gia này. Trung Quốc đã phải phòng thủ bằng việc để cho đồng NDT tăng giá từ từ theo đồng USD như khẳng định của Yang Gi, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC), sau đợt phá giá tiền tệ vào tháng 8-2015.
Trung Quốc hiện đang mắc kẹt giữa 2 mục tiêu: Giữ đồng NDT thấp để tạo ra tăng trưởng và việc làm trong khi mục tiêu kia là chống lại làn sóng tháo vốn thoát khỏi Trung Quốc. Dĩ nhiên, chính sách đồng USD mạnh đã vạ lây đến nhiều quốc gia khác như Brazil, Ấn Độ, Malaysia, Hàn Quốc... bởi làn sóng rút vốn.
III. Mất niềm tin tiền giấy
Kể từ khi giá vàng giảm hơn 45% so với đạt đỉnh vào tháng 9-2011, có rất ít người còn nhắc đến vàng. Vậy vàng đang ở đâu trong cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 này?
Trú ẩn vào vàng
Trong kỳ 2, ĐTTC đã giải thích cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 không đơn thuần là việc phá giá một đồng tiền này so với đồng tiền khác để giành lợi thế cạnh tranh, mà là rủi ro khả năng sụp đổ hệ thống tiền tệ. Nghĩa là, việc mất niềm tin vào tiền giấy và nguy cơ xuất hiện làn sóng thu mua tài sản cố định. Từ năm 2008-2011, vàng tạo ra cơn sốt thực sự khi FED liên tục bơm tiền qua gói QE1 và QE2. Tuy nhiên, việc Nhật Bản, Anh và nay là Eurozone tham gia nới lỏng tiền tệ, đã khiến đồng USD tăng giá, kéo theo vàng giảm hơn 45% trong vòng 4 năm qua.
Nhưng sự thực có phải như vậy? Các ngân hàng trung ương (NHTƯ) trên thế giới đang tham gia một cuộc chiến giành giựt vàng rất khốc liệt. Sự tụt dốc của giá vàng không phản ánh đúng nhu cầu thực sự của vàng vì nó không diễn ra trên sàn giao dịch mà là cuộc thu gom trực tiếp tại các mỏ vàng. Mặc dù còn nhiều tranh luận về vai trò của vàng (hàng hóa đơn thuần hay là một hệ thống tiền tệ), các NHTƯ vẫn đẩy mạnh mua vàng vì vàng là tiền.
Trong 10 năm (2002-2012), các NHTƯ đã mua ròng hơn 1.000 tấn vàng/năm, lớn hơn 1/3 lượng cung vàng hàng năm của thế giới. Thậm chí, vàng sau khi khai thác tại mỏ được chuyển thẳng tới hầm dự trữ vàng của các NHTƯ. Trong đó các nền kinh tế mới nổi mua khoảng 400 tấn vàng/năm từ các nhà khai thác vàng hoặc từ thị trường mở. Vàng có xu hướng di chuyển từ Tây sang Đông, đặc biệt Trung Quốc như một con nghiện khát vàng. Quốc gia này với khát vọng muốn thay đổi vị trí thống trị của đồng USD đã đẩy mạnh thu gom vàng.
Hiện nay, dù chưa có con số chính xác về số vàng dự trữ của Trung Quốc, nhưng theo các chuyên gia tính đến đầu năm 2015, Trung Quốc đang nắm giữ khoảng 4.000 tấn vàng, vượt qua Pháp, Italia, Đức và cả IMF, trở thành quốc gia nắm giữ vàng lớn thứ 2 sau Hoa Kỳ. Nga cũng nỗ lực mua vàng. Trong 10 năm (2004-2014), dự trữ vàng của Nga tăng 250%, từ 390 tấn lên hơn 1.100 tấn. Tuy nhiên, quy mô dự trữ vàng của Hoa Kỳ thì không nước nào sánh kịp. Hiện nay, ước tính tại hầm dự trữ vàng của FED đang cất giữ khoảng 6.400 tấn.
Hệ thống bản vị vàng mới?
Rõ ràng, các NHTƯ đang hiểu rõ điều gì sẽ diễn ra đối với cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3: Đó là một hệ thống tiền tệ bản vị vàng mới có khả năng ra đời. Cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 có thể không được kết thúc bằng những hiệp định ngừng phá giá như 2 cuộc chiến trước mà bằng con đường duy nhất: cải tổ lại hệ thống tiền tệ toàn cầu. Cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3 phải được giải quyết triệt để di sản của 2 cuộc chiến tranh tiền tệ trước để lại.
Các nhà chiêm tinh học dự báo, có thể đến những năm 2020, hệ thống tiền tệ toàn cầu sẽ được sắp xếp lại. James Rickards, tác giả cuốn sách Currency Wars (Cuộc chiến tiền tệ), cho rằng hệ thống bản vị vàng mới có thiết kế khả thi và hiệu quả hơn tùy thuộc vào việc thiết kế như thế nào và điều kiện nào khi được tung ra. Hệ thống bản vị vàng cổ điển, từ 1870-1914, đã thành công lớn với việc tạo ra một giai đoạn ổn định giá cả, tăng trưởng thực cao và các phát minh lớn. Ngược lại, hệ thống bản vị vàng-tỷ giá từ 1922 đến 1939 bị thất bại và tạo ra Đại suy thoái.
Thực chất, hệ thống bản vị vàng-tỷ giá từ năm 1922-1939 được xây dựng giả tạo nhằm mục đích xóa bỏ bản vị vàng của các NHTƯ như FED và BOE (NHTƯ Anh). Sau thế chiến thứ nhất, kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng mạnh mẽ, trong khi nước Anh chìm vào trạng thái trì trệ. Lạm phát của Hoa Kỳ do đó cao hơn hẳn so với Anh. Tuy nhiên BOE lại duy trì mức lãi suất cao hơn so với FED với mục tiêu khôi phục lại bản vị vàng. Kết quả vàng đổ vào Anh khiến đồng bảng tăng giá và nền kinh tế Anh sụp đổ.
Tuy nhiên sau đó, Hoa Kỳ lại xuất hiện tình trạng bong bóng tài chính dẫn đến cuộc sụp đổ chứng khoán vào năm 1929. Những diễn biến trên càng cho thấy hệ lụy của chế độ tiền giấy danh nghĩa không neo vào vàng là 2 cuộc chiến tranh tiền tệ diễn ra sau đó. Trong đó, cuộc chiến tranh tiền tệ lần thứ nhất đã tạo ra thế chiến thứ hai (1939-1945), còn cuộc chiến tranh tiền tệ lần thứ 2 thì góp phần tạo ra một bong bóng tài chính to hơn.
Quốc gia ít dự trữ vàng thua thiệt
Tuy nhiên, tương lai của hệ thống bản vị vàng mới đang là tranh cãi của giới phân tích với hàng loạt vấn đề: Đồng tiền dự trữ toàn cầu là USD hay là một đơn vị tiền tệ toàn cầu khác? Tỷ lệ dự trữ vàng của đồng tiền mới là bao nhiêu? Cách xác định tỷ giá giữa các tiền tệ? Hiện tại, đồng SDR (quyền rút vốn đặc biệt) của IMF được cho là ứng cử viên cho đơn vị toàn cầu mới. Nhưng đây không phải là SDR cũ mà là một SDR mới - một đồng tiền được bảo đảm bằng vàng và tự do chuyển đổi thành vàng, hoặc một đồng nội tệ của bất cứ thành viên nào của hệ thống.
Hệ thống này có thể gồm 2 lớp. Lớp đầu tiên có thể là SDR, được định nghĩa bằng tỷ trọng cụ thể trong vàng. Lớp thứ 2 gồm các tiền tệ riêng lẻ của mỗi quốc gia thành viên, chẳng hạn như USD, EUR, yen Nhật hoặc bảng Anh. Mỗi đơn vị tiền tệ có thể được định nghĩa như một số lượng cụ thể của SDR. Vì đồng nội tệ được định nghĩa trong SDR và SDR được định nghĩa bằng vàng, bằng cách mở rộng mỗi đồng nội tệ sẽ có một giá trị cụ thể của vàng. Theo đó, mỗi đồng nội tệ có mối quan hệ với SDR và vàng, đồng thời có mối quan hệ cố định với các đồng tiền khác. Thí dụ, 1EUR = 1SDR; 1,5USD =1SDR, tức 1EUR =1,5USD.
Để tham gia hệ thống SDR vàng mới, các quốc gia thành viên phải có một tài khoản thanh toán, nghĩa là đồng nội tệ của họ có thể tự do chuyển đổi thành SDR, vàng, hoặc tiền tệ của các quốc gia thành viên khác. Đây không phải là vấn đề lớn đối với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Eurozone và các thành viên khác hiện đã có tài khoản vãng lai mở, nhưng nó có thể trở ngại với Trung Quốc, vốn chưa có tài khoản. Đây là lý do tại sao Trung Quốc từ năm 2014 đã có tham vọng bước vào danh mục SDR. Các thành viên được khuyến khích chấp nhận đồng SDR bảo đảm bằng vàng mới như là một đơn vị thanh toán trong khả năng lớn nhất có thể.
Các thị trường toàn cầu như dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác có thể chuyển sang định giá bằng SDR hơn là USD. Các doanh nghiệp đa quốc gia lớn trên thế giới như IBM hoặc Exxon, có thể vẫn tiếp tục được nắm giữ SDR; nhiều thước đo kinh tế như sản lượng toàn cầu, cán cân thanh toán, có thể được tính toán và đo lường theo đồng SDR.
Cuối cùng, thị trường trái phiếu định danh bằng đồng SDR phát triển, với sự tham gia của các quốc gia nước ngoài, các công ty đa quốc gia, các ngân hàng địa phương và được mua lại bởi các quỹ đầu tư quốc gia và các quỹ hưu trí. Thị trường trái phiếu có trung gian là các ngân hàng toàn cầu quy mô lớn, chẳng hạn như Goldman Sachs, dưới sự giám sát của IMF. IMF lúc này trở thành một NHTƯ toàn cầu.
![]() |
|
|
Ban đầu, hệ thống mới có thể hoạt động không có sự mở rộng của cung tiền trên toàn cầu. Bất cứ quốc gia nào muốn có SDR và các đồng nội tệ khác. IMF chỉ thực hiện nới lỏng tiền tệ trong những trường hợp ngoại lệ và được sự chấp nhận của đa số thành viên trong các thành viên tham gia IMF trong hệ thống bản vị vàng mới.
Dựa trên việc hạn chế phát hành các đồng SDR mới, hệ thống sẽ tung ra một SDR như là một mốc neo và là một đơn vị thanh toán nhưng chỉ tồn tại một số lượng nhỏ các SDR. Cung tiền tệ cơ sở toàn cầu của các thành viên sẽ tạo nên tổng cung tiền toàn cầu, giống như ngày hôm nay, và tổng cung tiền này là điểm tham chiếu để xác định mức giá vàng hợp lý.
Hệ thống bản vị vàng mới có thể giải quyết được 3 vấn đề kinh tế quan trọng nhất của thế giới hiện nay: Sự sụt giảm của đồng USD, nợ treo lơ lửng trên đầu và sự đổ xô vào vàng. Chỉ có hệ thống bản vị vàng mới có thể chấm dứt cuộc chiến tranh tiền tệ lần 3. Do đó, việc các NHTƯ đang đẩy mạnh việc mua gom vàng cũng là nhằm có được một tiếng nói lớn hơn trong một hệ thống tiền tệ mới. Như vậy, thua thiệt sẽ dành cho các quốc gia có dự trữ vàng ít.
IV. Việt Nam trong thế giới bất ổn
Kể từ khi Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) tiến hành rút gói QE3 (gói nới lỏng định lượng lần 3) vào tháng 10-2014, làn sóng rút vốn khỏi thị trường mới nổi đã trở thành xu hướng của dòng vốn quốc tế. Các thị trường tài chính ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia... đang đối diện với dòng vốn rút ra và đồng USD mạnh lên. Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam không nằm ngoài ảnh hưởng đó.
Tổn thương do đồng USD mạnh
Rất nhiều nhà đầu tư (NĐT) kỳ vọng rằng việc thực hiện nới room cho NĐT nước ngoài trong một tham vọng nâng hạng TTCK Việt Nam từ cận biên sang mới nổi sẽ thu hút dòng vốn ngoại vào TTCK Việt Nam trong năm 2015; hoặc hy vọng dòng vốn ngoại thoát khỏi Trung Quốc sẽ chảy sang Việt Nam. Tuy nhiên, có nhiều yếu điểm khiến nền kinh tế Việt Nam cần cảnh giác với khả năng rút vốn mạnh hơn nữa và nguy cơ mất an toàn nợ quốc gia khi FED thực hiện chính sách đồng USD mạnh.
|
Đồng USD mạnh sẽ hút dòng vốn gián tiếp khỏi Việt Nam giống như thời điểm cuối năm 2014. Với 37 tỷ USD dự trữ ngoại hối và 10 tấn vàng, Việt Nam có lá chắn phòng ngừa tốt hơn so với trước đây, nhưng chưa có gì khẳng định điều này là an toàn. |
Thứ nhất, nợ công của Việt Nam đang là vấn đề gây tranh cãi. Vào tháng 7-2015, Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết nợ công Việt Nam đã tăng nhanh trong những nằm gần đây và đến cuối năm 2014 đã ở mức 110 tỷ USD, cao hơn so với số liệu từ Chính phủ Việt Nam. Tỷ lệ nợ công/GDP theo WB ở mức 59%, tăng mạnh so với mức 50% vào năm 2011.
Tuy nhiên, con số nợ công này chưa tính đến nợ tiềm tàng từ khu vực doanh nghiệp nhà nước. Bản báo cáo về tình hình nợ công thế giới của Bank of America vừa công bố vào đầu tháng 8 cho thấy nợ công Việt Nam đứng thứ 12 trong nhóm rủi ro cao nhất. Xu hướng tăng nợ công của Việt Nam đang là vấn đề lo ngại khi thâm hụt ngân sách tăng. Theo ADB, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có thể lên mức 60% vào năm 2016. Bộ Tài chính Việt Nam dự báo kế hoạch nợ công chạm mức 65% GDP vào năm 2017 mới thực hiện thắt chặt tài khóa.
Thứ hai, vấn đề của nợ công Việt Nam là cơ cấu nợ ngắn hạn lớn. Phần lớn các khoản nợ có kỳ hạn trung bình khoảng 3,1 năm vào năm 2013 và 4,8 năm vào năm 2014. Như vậy, với các khoản nợ công tăng dần từ năm 2011, khả năng Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ áp lực trả nợ tăng cao từ năm 2016 trở đi. Thứ ba, Việt Nam không có nguồn thu ngân sách ổn định. Ước tính nguồn thu từ dầu thô đang đóng góp 20-30% ngân sách của Việt Nam, trong khi đó khả năng cắt giảm thâm hụt ngân sách rất thấp với cơ cấu 70% chi thường xuyên và 15% chi trả nợ.
3 yếu điểm này sẽ khiến Việt Nam dễ bị tổn thương khi FED thực hiện chính sách đồng USD mạnh trong năm vài năm tới. Chính sách này cũng như việc Iran đã có được thỏa thuận hạt nhân với Hoa Kỳ để có thể bán dầu ra thị trường, tạo ra viễn cảnh giá dầu có thể chạm mốc 15-25USD/thùng. Điều này có thể giáng một đòn nặng lên tình trạng ngân sách của Việt Nam. Việt Nam đầu năm 2015 vẫn đang dự toán nguồn thu từ dầu với kịch bản giá dầu ở mức 100USD/thùng. Trong khi đó, thực tế giá dầu đã đạt đỉnh mức cao nhất 62USD/thùng vào tháng 6-2015 và hiện giao dịch ở mức 40USD/thùng. Do vậy lo ngại về nợ công là hoàn toàn có thể nếu giá dầu tụt quá sâu trong vài năm tới.
Nguy cơ làn sóng rút vốn
Tính chung trong năm 2014, tổng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam khoảng 122 triệu USD, nhưng đã giảm 112 triệu USD so với năm 2013. Cũng trong năm 2014, dòng vốn ngoại chảy mạnh vào TTCK Việt Nam trong 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên, khối ngoại cũng đã rút ròng hơn 100 triệu USD trong quý IV-2014, là thời điểm FED rút QE3. Đây là lý do tại sao TTCK Việt Nam sụt giảm mạnh hơn 10% kể từ tháng 10-2014. Và việc vào tháng 1 và 5-2015, Việt Nam phải 2 lần phá giá tiền tệ khoảng 2%, cho thấy áp lực rút vốn khỏi Việt Nam.
Mặc dù con số đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam chỉ ở mức vài trăm triệu USD mỗi năm, nhưng phần chìm của dòng vốn này không có số liệu nào thu thập. Vào quý I-2014, Việt Nam mua hơn 7,7 tỷ USD ngoại hối chỉ trong thời ngắn và giới kinh doanh tiền tệ đang đặt câu hỏi về hoạt động carry trade (kinh doanh chênh lệch lãi suất) giữa VNĐ và USD tại Việt Nam. Rõ ràng, có dấu hiệu về dòng vốn nóng đổ vào Việt Nam và dòng vốn này hoàn toàn có thể thoát ra khi FED thực hiện nâng lãi suất (có thể ngay trong tháng 9 này).
Việc dự trữ ngoại hối Việt Nam tăng mạnh từ mức 9 tỷ USD vào năm 2011 lên 37 tỷ USD ở thời điểm hiện tại, cũng là khoảng thời gian dòng vốn quốc tế di chuyển từ Hoa Kỳ sang các nước mới nổi và cận biên hoàn toàn có thể xuất hiện dòng vốn nóng ở trong đó. Việt Nam đang ở thế kẹt giữa việc duy trì mức lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và vấn đề vay nợ giải quyết thâm hụt ngân sách.
Mặc dù lãi suất của vay nợ của trái phiếu chính phủ chỉ ở mức 7,9% năm 2013 và 6,6% năm 2014, nhưng có bằng chứng cho thấy lãi suất vay nợ của Việt Nam phải tăng lên khi lãi suất thế giới tăng. Vào tháng 9-2014, khi lãi suất trái phiếu Junk Bond của Hoa Kỳ tạo đáy và tăng vọt, lãi suất trái phiếu chính phủ của Việt Nam cũng tăng theo. Việc tăng lãi suất sẽ khiến nền kinh tế càng gặp khó khăn, tạo ra nguy cơ thâm hụt ngân sách lớn và rủi ro cho nợ công.
Hơn nữa, các doanh nghiệp xuất khẩu FDI đang là trụ đỡ quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam mất đi lợi thế cạnh tranh. Trong năm 2014, đồng rúp đã mất giá 50% so với USD; đồng EUR mất giá 13% so với USD; đồng yen Nhật mất giá 14% so với USD; đồng bath Thái Lan mất giá 13% so với USD; đồng đô la Singapore mất giá 9,7% so với USD; đồng ringit của Malaysia mất giá 21,5% so với USD... Từ năm 2014 đến nay đồng NDT của Trung Quốc chỉ tăng giá 4% so với USD. 4 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Eurozone, Hoa Kỳ, ASEAN và Trung Quốc, nhưng có thể thấy rằng Việt Nam đang mất lợi thế so với khu vực Eurozone và ASEAN.
Tác động từ TTCK Trung Quốc
Việt Nam thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc và cũng có nhiều lĩnh vực xuất khẩu cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc. Việc NDT có bị bán tháo mạnh trong bối cảnh làn sóng tháo vốn xuất hiện hay không là một nghi vấn đang được đặt ra. Phân tích trong Kỳ 1 cho thấy đợt phá giá vào tháng 8-2015 của đồng NDT là do quốc gia này bị tháo vốn, không phải chủ động giảm giá tạo cạnh tranh cho xuất khẩu. Nếu đồng NDT bị bán tháo, VNĐ cũng sẽ bị phá giá theo. Do đó, kịch bản Việt Nam không còn giữ được sự ổn định của đồng nội tệ và thậm chí phải phá giá mạnh là hoàn toàn có thể xảy ra nếu Trung Quốc thất bại trong khả năng kiểm soát vốn.
![]() |
|
Lao dốc của TTCK Trung Quốc trong tháng 8 đã làm cho nhiều NĐT lao đao. |
Những phân tích ở trên cho thấy mối quan hệ giữa nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc, cả Việt Nam và Trung Quốc đang bị động bởi chính sách đồng USD mạnh của FED. Theo cảnh báo của Công ty Elliott Wave International (EWI) vào tháng 7-2015, độ tương quan giữa TTCK Việt Nam và TTCK Trung Quốc khá cao. EWI chỉ ra lịch sử vào năm 2007, Việt Nam đổ vỡ bong bóng còn sớm hơn cả Trung Quốc. Tuy nhiên, đến khi nền kinh tế Trung Quốc sụp đổ và TTCK suy giảm mạnh, TTCK Việt Nam cũng bị ảnh hưởng rất nặng nề trong năm 2008.
Lịch sử đang lặp lại điều đó. Vào tháng 9-2014, chỉ số VN Index đạt đỉnh 640 điểm trước khi FED tiến hành kết thúc QE3. Trong khi đó, TTCK Trung Quốc lại khởi đầu một chu kỳ bong bóng và đến tháng 6-2015 mới bắt đầu sụp đổ. VN Index hiện tại đạt đỉnh vào giữa tháng 7-2014 và bắt đầu tụt dốc mạnh trong tháng 8-2015 khi đồng NDT bị phá giá. Nếu như mối quan hệ trên còn tiếp tục, sự sụp đổ của TTCK Trung Quốc sẽ cho thấy khả năng suy giảm mạnh của TTCK Việt Nam trong vòng 1-2 năm tới. Các NĐT trên TTCK Trung Quốc đang lo ngại khi có sự tham gia của nhà bán khống huyền thoại George Soros.






